Quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam khoảng 3% GDP
Quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện khoảng 3% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu, cho thấy cơ hội mở rộng và đóng góp vào tăng trưởng.
Đây là kết quả nghiên cứu tác động xã hội và kinh tế của ngành bảo hiểm tại ASEAN do Prudential công bố tại phiên chuyên đề thuộc khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh Việt Nam – Anh vừa diễn ra tại TP.HCM.
Tổng quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam tương đương khoảng 3% GDP, bằng mức trung bình 6 nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam), nhưng vẫn thấp hơn mức trung bình toàn cầu là 6,7%.
Trong 6 nước ASEAN – chiếm 99% quy mô thị trường bảo hiểm toàn khối – chỉ Malaysia và Singapore có thị trường bảo hiểm lớn hơn 3% GDP, riêng Singapore dẫn đầu với 9,2%.
Theo ông Steven Chan, Giám đốc Quan hệ Chính phủ và Chính sách Tập đoàn Prudential, thách thức chung của ngành bảo hiểm là vấn đề thông tin và niềm tin. Khảo sát cho thấy hơn một nửa số người được hỏi không biết lấy thông tin về bảo hiểm ở đâu hoặc không đủ thông tin để ra quyết định. Ông nhận định, tại Việt Nam tình hình cũng tương tự. Ngoài ra, còn có các rào cản về hạ tầng, chi phí và khả năng tiếp cận dịch vụ. Chẳng hạn, cứ 4 người thì có 1 gặp khó khăn khi yêu cầu bồi thường.
Theo ông Ngô Trung Dũng, Phó tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, người Việt có xu hướng ngại nói về rủi ro và mua bảo hiểm, dẫn đến nhận thức về vai trò bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ, còn hạn chế.
Nghiên cứu cũng chỉ ra dư địa tăng trưởng của ngành bảo hiểm Việt Nam còn lớn, có khả năng tác động tích cực đến nền kinh tế. Nếu độ phủ bảo hiểm (phi nhân thọ lẫn nhân thọ) tăng 50%, GDP và GDP bình quân đầu người có thể tăng thêm lần lượt 4,1% và 2,5%.
Dự báo này được tính bằng công cụ “Mô hình Tăng trưởng Dài hạn” (Long-Term Growth Model) của Ngân hàng Thế giới, phân tích ba tác động chính của ngành bảo hiểm: lao động, vốn và vốn nhân lực.
- Bảo hiểm y tế: cải thiện sức khỏe, giảm chi phí khám chữa bệnh, khuyến khích người lao động tham gia thị trường, làm việc lâu hơn và trì hoãn nghỉ hưu.
- Bảo hiểm nhân thọ: giúp tích lũy vốn, huy động tiết kiệm và đẩy vốn vào đầu tư dài hạn, hỗ trợ ổn định tài chính và thúc đẩy tăng trưởng. Tính đến 2024, các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư trở lại nền kinh tế 868.000 tỷ đồng.
- Vốn nhân lực: bảo hiểm y tế và bảo hiểm nhân thọ cải thiện sức khỏe và an toàn tài chính, tạo điều kiện học tập, nâng cao kỹ năng và phát triển nghề nghiệp, từ đó nâng năng suất và chất lượng nguồn lao động.
Ông Atul Tandon, Tổng giám đốc AstraZeneca Vietnam, đánh giá Việt Nam đạt thành tựu bảo hiểm y tế gần như phổ quát, nhưng vẫn còn khoảng 40% chi tiêu y tế là tự trả. Việt Nam cần tăng hợp tác giữa công ty dược phẩm (vai trò điều phối), bệnh viện (hiểu hành trình bệnh nhân) và bảo hiểm (cung cấp giải pháp) để giảm gánh nặng chi phí y tế.
Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đặt mục tiêu đến 2030: đạt 18% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ, tương đương 3-3,5% GDP.
Để thị trường bảo hiểm phát triển, ông Steven khuyến nghị củng cố niềm tin khách hàng ở hai yếu tố:
- Minh bạch thông tin: giúp khách hàng hiểu rõ quyền lợi, điều gì được chi trả và không.
- Minh bạch chi phí và quy trình: sản phẩm và thủ tục phải rõ ràng, dễ theo dõi. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) là một trong các giải pháp hỗ trợ.
Ông Dũng cũng kêu gọi xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối với các ngành khác (y tế, giao thông) do Bộ Tài chính quản lý, giúp doanh nghiệp định phí, thiết kế sản phẩm và chống gian lận; đồng thời triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) để phát triển nhanh các sản phẩm nhỏ, đơn giản.
Để tăng đóng góp vào nền kinh tế, cần nhiều hợp tác công tư (PPP) hơn, như ưu đãi cho các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào trái phiếu xanh và cơ sở hạ tầng, phù hợp với đặc thù đầu tư dài hạn của bảo hiểm nhân thọ (15-30 năm). Với các sản phẩm khó thương mại hóa từ đầu (bảo hiểm nông nghiệp, thiên tai), Nhà nước nên tạo quỹ hỗ trợ một phần chi phí rủi ro ban đầu, khuyến khích doanh nghiệp tham gia cung ứng.

